Biện pháp dạy môn Tiếng việt 1- Công nghệ giáo dục cho học sinh dân tộc

    Năm học 2015-2016 là năm thứ hai nhà trường thực hiện giảng dạy Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình Công nghệ giáo dục. Điểm Cái Nhum 2 là điểm trường lẻ của trường TH&THCS Phong Đông, là nơi có đông dân tộc, thuộc ấp đặc biệt khó khăn. Chính vì vậy việc dạy và học ở nơi đây có những thuận lợi và khó khăn như sau:

IMG_20151215_183916

1/ Thuận lợi và khó khăn

1.1 Thuận lợi:

          – Dạy học theo chương trình Tiếng việt Công nghệ giáo dục giáo viên phát huy được tính tích cực của học sinh, giờ học diễn ra sôi nỗi, hào hứng; học sinh nắm được cách phân tích cấu trúc ngữ âm, xác định được các âm trong một tiếng  như: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối…

          – Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian để quan tâm đến học sinh nhiều hơn, nghiên cứu tài liệu, để nắm qui trình dạy, cách tổ chức thực hiện lên lớp với học sinh.

          – Tài liệu sách thiết kế chi tiết cho các dạng bài, các mẫu của từng tiết dạy.

 1.2 Khó khăn:

          – Đối với học sinh dân tộc các em có vốn từ ít, kỹ năng giao tiếp chưa tốt…đôi khi các em chưa tiếp thu kiến thức kịp bằng các bạn trong các hoạt động học tập, cũng như nhận và hoàn thành nhiệm vụ.

          – Học sinh còn chưa nắm vững luật  chính tả từ đó viết chính tả còn sai lỗi.

          – Học sinh dân tộc còn phát âm sai các âm, vần, tiếng…

2/ Các nội dung chính của giải pháp

IMG_20151215_183940

2.1 Tạo môi trường giao tiếp cho các em thông qua các hoạt động học tập phát triển vốn từ.

     –  Các em học sinh từ môi trường mầm non, bước vào lớp 1, các em còn rất bở ngỡ, rụt rè, chưa mạnh dạn, đặc biệt là học sinh dân tộc. Thông qua việc học tuần 0 sẽ giúp các em làm quen với thầy( cô), cũng như các bạn trong lớp.Từ đó phát triển vốn từ và khả năng giao tiếp một cách tự nhiên ờ các em, giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp, cũng như khi nhận và hoàn thành nhiệm vụ.

     – Ở tuần 0 giáo viên cần giúp cho các em làm quen với các đồ dùng học tập, tư thế viết bảng con, cách cầm viết, xóa bảng, sách giáo khoa, bút chì…Tuy đó là những điều đơn giản, nhưng với các em mới vào lớp 1,đặc biệt các em học sinh dân tộc còn bở ngỡ. Các em nắm được những điều đó, thì khi giáo viên giao việc học sinh sẽ thực hiện tốt.

2.2 Các thủ thuật ghi nhớ các âm, vần trong Tiếng việt lớp 1-CGD

a) Về âm:

   – Giáo viên phải phát âm chuẩn để học sinh phát âm theo.Giáo viên chỉ phát âm một lần, nhưng cần rõ ràng, và chính xác.Nhưng đối với các em còn chậm,đặc biệt các  học sinh dân tộc, giáo viên cần quan tâm chú trọng đến các em nhiều hơn.Nếu các em phát âm còn sai âm mới, giáo viên cần phát âm lại 2-3 lần, để giúp các em sửa chữa và nắm được và nắm chắc các âm đó.

   –  Cần nắm được đó là nguyên âm hay phụ âm( thông qua việc phát âm), để đưa vào mô hình phân tích tiếng cho đúng.Tránh nhầm lẫn khi đưa vào mô hình( phần đầu là phụ âm, phần vần bao giờ cũng là nguyên âm).

Ví dụ:

                ch             a

               Phụ âm        Nguyên âm

b) Về vần

          – Để học tốt phần vần của Tiếng việt lớp 1-CGD, trước hết các em phải nắm chắc các âm đã học.

          Ví dụ: Học vần /an/ biết gồm có 2 âm, âm a đứng trước, âm n đứng sau.

          – Phải nắm chắc việc phân tích tiếng, vị trí các âm trong mô hình.

          Ví dụ: / loa/         / lờ/- / oa/ -/loa/

          – Nắm chắc các mẫu vần đã học để khi đưa tiếng vào mô hình không bị sai.Các em đôi khi còn sai khi đưa tiếng đã học vào mô hình.Vì vậy, giáo viên cần giúp các em nắm chắc các mẫu vần, nếu sai giao viên kịp thời giúp học sinh sửa lỗi.

  1. c) Nắm chắc cơ chế đánh vần

           Các em còn nhầm lẫn với cách đánh vần ở mẫu giáo, và do ảnh hưởng do phụ huynh.Vì vậy giáo viên cần giúp các em nắm chắc cơ chế đánh vần với các bước:

          Bước 1: Tạm thời tách thanh ra để lại tiếng thanh ngang

          Bước 2: Đọc tiếng thanh ngang

          Bước 3: Trả lại thanh.

          Đối với các học sinh chậm, đặc biệt học sinh dân tộc, nếu các em không đọc được, thì chúng ta cần chia nhỏ ra nữa.

          Ví dụ: Tiếng /bà/ các em không đọc được, thì cho các em đánh vần ra:

/ bà/             / ba/ -/huyền/ -/bà/, nếu không đọc được nữa, cho học sinh phân tích tiếng /ba/: / bờ/- / a/ -/ ba/, không đọc được nữa thì gợi mở cho các em nhớ lại các nét cơ bản cấu tạo nên / b/ và /a/.Nắm được cơ chế đó các em sẽ đọc được dù bất kể tiếng nào.

2.3 Cách viết chính tả:

IMG_20151215_183956

     – Học sinh thường viết sai chính tả do các em có vốn từ ít và chưa nhớ hết chữ cái.Vì vậy, cần cho các em nắm chắc các nét cơ bản( tuần 0).Từ đó các em sẽ nhớ cấu tạo các âm tạo thành chữ, chữ tạo thành tiếng…

 Ví dụ: Bài 2:Âm( Phụ âm/ nguyên âm) của tuần 2, các em bắt đầu viết chính tả.Từ việc nắm vững các nét cơ bản (tuần 0); biết con chữ / b/ viết thường gồm 1 nét khuyết trên, 1 nét móc ngược và một nét xoắn; con chữ / a/ viết thường gồm 1 nét cong kín, 1 nét móc ngược. Nắm được điều đó các em sẽ viết tốt chính tả.

         – Giáo viên cần giúp các em nắm chắc các luật chính tả. Học tới đâu có l
iên quan đến luật chính tả trước đó, thì giáo viên cho các em nhắc lại tới đó, nhằm khắc sâu kiên thức cho các em.Đối với học sinh dân tộc nếu các em còn viết sai, giáo viên sẽ đến tới chỗ giúp em nhớ lại và viết tốt hơn

2.4/Sử dụng các  phương pháp và hình thức tổ chức phát huy tính tích cực.

 Để cho các em ghi nhớ và khắc sâu các kiến thức đã học, người giáo viên không chỉ nắm vững qui trình 4 việc trong sách thiết kế, mà còn phải làm cho lớp học sôi nổi, học sinh thoải mái trong học tập.Chính vì điều đó, giáo viên phải tạo ra nhửng trò chơi học tập để làm cho không khí sôi nổi, tích cực, đồng thời củng cố kĩ năng

Ví dụ: Khi dạy vần / ât/, tuần 12, Giáo viên có thể sử dụng trò chơi “ Bắn tên” để cho học sinh tìm tiếng mới, mà lại giúp các em hứng thú học tập hơn.

Và luôn quan tâm chú ý đến những học sinh dân tộc vì các em chưa mạnh dạn, luôn tạo điều kiện để lần lượt các em được điều khiển trò chơi cho các bạn.

IMG_20151216_113158

3.Kết quả thực hiện và phạm vi áp dụng nhân rộng.

order Kamagra Soft online cheap, cheap Antabuse

 3.1 Kết quả thực hiện

          Năm học 2014-2015: áp dụng kinh nghiệm vào thực tế giảng dạy và tiếp tục tìm hiểu bổ sung những kinh nghiệm thu được, kết quả kiểm tra cuối năm.Lớp tôi đạt kết quả như sau:

Thời gian TSHS

dân tộc

Đọc Viết
Đạt Chưa đạt Chuẩn Chưa chuẩn
Đầu năm 8 2 6 2 6
Cuối năm 8 7 1 7 1

4.2 Phạm vi áp dụng nhân rộng:

          Khi vận dụng các biện pháp trên, tôi nhận thấy rất khả quan.Thành tích học tập của các em tiến bộ nhiều hơn so với đầu năm học.Các em đã mạnh dạn hơn trong học tập, nắm được các mẫu vần, biết đưa tiếng vào mô hình…Các biện pháp trên đã được ứng dụng tại khối 1.Bản thân tôi không ngừng dừng lại ở thành tích trên, mà luôn nỗ lực cố gắng để đạt được thành tích cao hơn.                                                           

Người viết

Đặng Thị Mỹ Duyên

acquire Flomax